BÀI KINH GIẢNG CHO KEVATTA- Phần 2 / Hoang Phong chuyển ngữ

16 Tháng Mười Một 20229:58 CH(Xem: 353)

BuddLotus

Bài kinh giảng cho Kevaṭṭa

Kevaṭṭa-Sutta - DN.11

(Dīgha Nikāya / Trường Bộ Kinh)
Phần 2


Đọc được Tâm thần của người khác

 

            "Với một tâm thức cô đọng, đã được tinh khiết hóa, rạng rỡ không một vết ô nhiễm, không khiếm khuyết, linh hoạt, uyển chuyển, vững chắc, phát động được sự điềm tĩnh, người tỳ-kheo đưa tâm thức đó của mình hướng thẳng vào sự hiểu biết bên trong tâm thức của người khác. Người tỳ-kheo nhận biết được [sự hiểu biết bên trong] tri thức của người khác, của các cá thể khác, vận dụng tri thức của mình để hoà nhập (encompassed / nhập chung, bao trùm) vào tri thức đó [của kẻ khác]. Người tỳ-kheo nhận biết được tâm thức đam mê [của kẻ khác] đúng là 'một tâm thức đam mê' (không sai lầm), một tâm thức không đam mê [của kẻ khác] đúng là 'một tâm thức không đam mê'. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức thù ghét (aversion / ác cảm, ghét bỏ) đúng là 'một tâm thức thù ghét', một tâm thức không thù ghét đúng là 'một tâm thức không thù ghét'. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức mang ảo giác đúng là 'một tâm thức mang ảo giác', một tâm thức không mang ảo giác đúng là 'một tâm thức không mang ảo giác'. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức kỷ cương (restricted / khắt khe) như là một tâm thức kỷ cương, một tâm thức bất nhất (scattered / lỏng lẻo, hời hợt, rời rạc) như là một tâm thức bất nhất. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức cởi mở đúng là 'một tâm thức cởi mở'. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức thiếu cởi mở như là 'một tâm thức thiếu cởi mở'. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức lỗi thời (surpassed mind / lạc hậu) như là một tâm thức lỗi thời, một tâm thức không lỗi thời đúng là 'một tâm thức không lỗi thời'. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức tập trung đúng là 'một tâm thức tập trung'. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức thiếu tập trung như là 'một tâm thức thiếu tập trung'. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức buông xả (released mind / thanh thản, bình lặng, không vướng mắc, không xao động) đúng là 'một tâm thức buông xả'. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức thiếu buông xả đúng là 'một tâm thức thiếu buông xả'. Cũng tương tự như vậy, một thiếu nữ hay - một thanh niên - thích làm đẹp nhìn vào gương mặt mình, phản chiếu từ một tấm gương thật sạch hay từ một bát nước trong, và nhận thấy gương mặt mình mang nhược điểm (blemisched / khiếm khuyết, không vừa ý) nếu [thật sự] có nhược điểm, hoặc không mang nhược điểm nào nếu [thật sự] không có nhược điểm nào (Đức Phật nêu lên một thí dụ cụ thể về cách đọc nội tâm của kẻ khác). Cũng tương tự như vậy - với một tâm thức tập trung, đã được tinh khiết hóa, rạng rỡ, không một vết ô nhiễm, không khiếm khuyết, linh hoạt, uyển chuyển, phát động được sự điềm tĩnh - người tỳ-kheo đưa tâm thức đó của mình hướng thẳng vào sự hiểu biết của tri thức người khác. Người tỳ-kheo nhận biết được sự tỉnh giác (awareness / sự hiểu biết, sự tỉnh thức hay tri thức) của người khác, của các cá thể khác, và hòa nhập (hội nhập, bao trùm) sự tỉnh giác (tri thức) đó [của người khác] cùng với sự tỉnh giác (tri thức) của chính mình. Người tỳ-kheo nhận biết được một tâm thức đam mê đúng là 'một tâm thức đam mê', một tâm thức không đam mê đúng là 'một tâm thức không đam mê'..., một tâm thức buông xả đúng là một tâm thức buông xả, và một tâm thức không buông xả đúng là 'một tâm thức không buông xả'.

 

            "Điều đó tự nó cũng đã là một phép lạ mang lại từ sự giảng dạy.

Nhớ lại được các tiền kiếp

 

            "Với một tâm thức cô đọng, đã được tinh khiết hóa, rạng rỡ, không một vết ô nhiễm, không khiếm khuyết, linh hoạt, uyển chuyển, vững chắc, phát động được sự điềm tĩnh, người tỳ-kheo đưa tâm thức đó của mình hướng thẳng vào sự hiểu biết về sự nhớ lại các thể dạng tiền kiếp (theo nhà sư Thanissaro Bhikkhu cho biết thì nghĩa từ chương của chữ "tiền kiếp" / past lives là previous homes / "các ngôi nhà trước đây" của mình). Người tỳ-kheo nhớ lại khung cảnh của các kiếp sống quá khứ (manifold past lives), chẳng hạn như một lần sinh, hai lần sinh, ba lần sinh, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn, thật nhiều kappa (kappa là tiếng Pali, mỗi kappa là một chu kỳ thời gian thật dài tương quan với một chu kỳ chuyển động và tan biến của vũ trụ, gồm chung trong đó dòng tiến hóa và suy thoái của tất cả chúng sinh. Chữ kappa được dịch sang tiếng La-tinh là aeon, kinh sách Hán ngữ gọi là kiếp hay kiếp-ba) liên quan đến sự co rút của vũ trụ, thật nhiều kappa liên quan đến sự trương nở của vũ trụ, thật nhiều kappa liên quan đến sự co rút và sự trương nở của vũ trụ [và nói lên]: 'Trong các khoảng thời gian đó, tôi từng mang tên như thế này, tôi thuộc vào bộ tộc này, mang hình tướng như thế kia. Thức ăn của tôi gồm những thứ như thế này, các cảm nhận thích thú và đớn đau của tôi từng hiện ra với tôi như thế này hay như thế kia, sự chấm dứt sự sống của tôi là như thế đó. Sau khi tình trạng ấy biến mất tại nơi kia, thì tôi hiện ra tại nơi này'. Đấy là cách mà người tỳ-kheo nhớ lại vô số kiếp sống quá khứ của mình xuyên qua các cảnh huống đã từng xảy ra với thật nhiều chi tiết. Điều đó cũng tương tự như một người phải từ bỏ ngôi làng này để đến một ngôi làng khác, và sau đó từ một ngôi làng khác lại chuyển sang một ngôi làng khác nữa, và sau cùng thì trở về ngôi làng nơi sinh trưởng của mình trước kia. [Trong trường hợp đó] ý nghĩ sau đây có thể hiện lên với người tỳ-kheo: 'Tôi đi từ ngôi làng này của tôi (nơi sinh trưởng của tôi) để đến ngôi làng kia. Nơi đó tôi từng đứng trong ngôi làng đó như thế này, tôi từng ngồi trong ngôi làng đó như thế kia, tôi ăn nói theo cách này, tôi giữ yên lặng theo cách kia. Từ ngôi làng đó tôi lại quay về nhà'. Cũng tương tự như vậy -  với một tâm thức cô đọng, đã được tinh khiết hóa, rạng rỡ, không một vết ô nhiễm, không khiếm khuyết, linh hoạt, uyển chuyển, vững chắc, phát động được sự điềm tĩnh - người tỳ-kheo đưa tâm thức ấy của mình hướng thẳng vào sự hiểu biết về sự nhớ lại các thể dạng tiền kiếp... qua các cảnh huống đã từng xảy ra cùng với thật nhiều chi tiết.

 

            "Điều đó tự nó cũng đã là một phép lạ mang lại từ sự giảng dạy.

 

Sự biến mất và hiển hiện của các chúng sinh

 

            "Với một tâm thức tập trung, đã được tinh khiết hóa, rạng rỡ, không một vết ô nhiễm, không một khiếm khuyết, linh hoạt, uyển chuyển, vững chắc, phát động được sự điềm tĩnh, người tỳ-kheo đưa tâm thức đó của mình hướng thẳng vào sự hiểu biết về sự biến mất và hiển hiện của các chúng sinh. Người tỳ-kheo - với đôi mắt thiêng liêng, đã được tinh khiết hóa, vượt lên trên [khả năng thị giác] của con người [bình dị] - sẽ trông thấy được chúng sinh qua đời và hiển hiện trở lại, và nhận thấy họ thấp kém hay cao cả, xinh đẹp hay xấu xí, giàu sang hay nghèo đói, tất cả đều tùy thuộc vào kamma / nghiệp của họ: 'Các chúng sinh ấy - nếu có một cung cách hành xử thiếu đạo đức trong các lãnh vực thân xác, ngôn từ và tâm thức, [chẳng hạn như] phỉ báng những người cao quý, mang các quan điểm sai lầm và hành động dưới sự chi phối của các quan điểm sai lầm - thì sau khi chết, thân xác bỏ lại, thì sẽ hiển hiện trở lại trong một hoàn cảnh thiếu thốn, với phần số tồi tệ, trong một cảnh giới thấp kém, nơi địa ngục. Thế nhưng các chúng sinh ấy nếu có một cung cách hành xử đạo đức trong các lãnh vực thân xác, ngôn từ và tâm thức, không hề phỉ báng những người cao quý, mang các quan điểm đúng đắn, hành xử phù hợp với các quan điểm đúng đắn, thì sau khi chết, thân xác bỏ lại, sẽ hiển hiện trở lại trong một hoàn cảnh thuận lợi, nơi các cõi thiên nhân'. Cũng vậy người tỳ-kheo - với đôi mắt thiêng liêng, đã được tinh khiết hóa, vượt lên trên [khả năng thị giác] của con người [bình dị] - sẽ trông thấy được sự qua đời và hiển hiện trở lại của các chúng sinh, và nhận biết được tại sao họ lại rơi vào hoàn cảnh thấp kém hay cao cả, xinh đẹp hay xấu xí, giàu sang hay nghèo đói, tất cả đều tùy thuộc vào kamma / nghiệp của họ. Điều đó cũng tương tự như một người đứng trên chỗ cao nhất của một ngôi nhà to lớn trong một khu phố nơi trung tâm [thành phố], có đôi mắt tinh tường, trông thấy được những người bước vào ngôi nhà, rời khỏi ngôi nhà, đi dạo trong các con đường trong khu phố, hoặc ngồi trong khu phố. Ý nghĩ  sau đây sẽ có thể hiện lên với người ấy: 'Các người ấy bước vào ngôi nhà, rời khỏi ngôi nhà, đi dạo trong các con đường trong khu phố, hay ngồi xuống trong khu phố. Cũng vậy - với một tâm thức tập trung, đã được tinh khiết hóa, rạng rỡ, không một vết ô nhiễm, không một khiếm khuyết, linh hoạt, uyển chuyển, vững chắc, phát động được sự điềm tĩnh - người tỳ-kheo đưa tâm thức đó của mình hướng thẳng vào sự hiểu biết về sự qua đời và hiển hiện của các chúng sinh. Người tỳ-kheo - với đôi mắt thiêng liêng, đã được tinh khiết hóa, vượt lên trên [khả năng thị giác] của con người [bình dị] - sẽ trông thấy được chúng sinh qua đời và hiển hiện trở lại, và nhận biết được tại sao họ lại rơi và hoàn cảnh thấp kém hay cao cả, xinh đẹp hay xấu xí, giàu sang hay nghèo đói, tất cả đều tùy thuộc vào kamma / nghiệp của họ...

 

            "Điều đó tự nó cũng đã là một phép lạ mang lại từ sự giảng dạy.

Sự chấm dứt của các thể dạng sôi sục tâm thần 

 

            "Với một tâm thức tập trung, đã được tinh khiết hóa, rạng rỡ, không một vết ô nhiễm, không một khiếm khuyết, linh hoạt, uyển chuyển, vững chắc, phát động được sự điềm tĩnh (thăng bằng, không xao xuyến), người tỳ-kheo đưa tâm thức đó của mình hướng thẳng vào sự hiểu biết về sự chấm dứt của các thể dạng sôi sục tâm thần (effluents / các sự xao động tâm thần khiến sự chú tâm bị thất thoát). Người tỳ-kheo nhận biết được điều đó tất sẽ mang lại [cho mình sự hiểu biết]: 'Đây là sự bấn loạn (stress / khổ đau, lo buồn trong tâm thần và trên thân xác)... Đây là nguyên nhân tạo ra sự bấn loạn... Đây là phương cách đưa đến sự chấm dứt bấn loạn... Đây là sự sôi sục tâm thần... Đây là nguyên nhân tạo ra sự sôi sục tâm thần... Đây là sự chấm dứt sự sôi sục tâm thần... Đây là phương cách làm chấm dứt sự sôi sục tâm thần'. Khi con tim của người tỳ kheo hiểu được điều đó, trông thấy được điều đó, thì nó sẽ thoát ra khỏi sự sôi sục về tính dục, sự sôi sục về sự hình thành (muốn được như thế này hay như thế kia, nói chung là các sự bám víu và thèm khát), sự sôi sục của sự u mê (vô minh). Thoát ra khỏi các thứ ấy là sự hiểu biết và cũng là sự 'Giải thoát'. Người tỳ kheo nhận biết được: 'Sự sinh đã chấm dứt, cuộc sống thánh thiện đã được thực hiện, công việc đã hoàn tất. Không còn bất cứ một thứ gì vướng mắc trong thế giới này. Điều đó cũng tương tự như một chiếc hồ trong thung lũng nơi một vùng núi non, nước hồ trong vắt không một chút ô nhiễm, một người có đôi mắt tinh tường đứng trên bờ hồ có thể trông thấy sò ốc, các hòn cuội, các hòn sỏi, các đàn cá đang bơi hoặc đang nghỉ ngơi'. Cũng tương tự như vậy, với một tâm thức tập trung, đã được tinh khiết hóa, rạng rỡ, không một vết ô nhiễm, không một khiếm khuyết, linh hoạt, uyển chuyển, vững chắc, phát động được sự điềm tĩnh, người tỳ-kheo đưa tâm thức đó của mình hướng thẳng vào sự hiểu biết về sự biến mất của các sự sôi sục. Người tỳ-kheo nhận biết điều đó tất sẽ mang lại [cho mình sự hiểu biết]: 'Đây là sự bấn loạn (stress / khổ đau, lo buồn trong tâm thần và trên thân xác)... Đây là nguyên nhân tạo ra sự bấn loạn... Đây là phương cách đưa đến sự chấm dứt sự bấn loạn... Đây là sự sôi sục tâm thần... Đây là nguyên nhân tạo ra sự sôi sục tâm thần... Đây là sự chấm dứt sự sôi sục tâm thần... Đây là phương cách làm chấm dứt sự sôi sục tâm thần'. Khi con tim của người tỳ kheo hiểu được điều đó, trông thấy được điều đó, thì nó sẽ thoát ra khỏi sự sôi sục về tính dục, sự sôi sục về sự hình thành (muốn được như thế này hay như thế kia, nói chung là các sự bám víu và thèm khát), sự sôi sục của sự u mê (vô minh). Thoát ra khỏi các thứ ấy là sự hiểu biết và cũng là sự 'Giải thoát'. Người tỳ kheo nhận biết được: 'Sự sinh đã chấm dứt, cuộc sống thánh thiện đã được thực hiện, công việc đã hoàn tất. Không còn bất cứ một thứ gì vướng mắc trong thế giới này.

 

            (Trước hết Đức Phật dạy phải làm như thế nào để biến mình từ một con người bình dị trở thành một con người cao cả và tinh khiết hơn, và tiếp tục sau đó thì phải hòa nhập vào bốn thể dạng jhāna tức là bốn thể dạng lắng sâu của tâm thức. Qua các thể dạng lắng sâu đó, người hành thiền sẽ phát động được các quyền năng siêu phàm giúp mình lắng nghe được các âm thanh thật xa và thiêng liêng mà người khác không nghe thấy được, đọc được tâm thần của người khác mà chính họ không ý thức được, nhớ lại được các tiền kiếp của mình, sự hiển hiện và biến mất của tất cả chúng sinh. Hơn thế nữa bốn thể dạng lắng sâu đó còn làm chấm dứt được cả các sự sôi sục trong tâm thức mang lại cho mình sự Giải thoát. Thế nhưng sau sự Giải thoát đó sẽ là gì, tức là sau khi bốn thành phần căn bản - "tứ đại" trong kinh sách Hán ngữ - chấm dứt không còn lưu lại một dấu vết kamma / nghiệp nào trong thế giới này, thì những gì "còn lại" là những thứ gì và chúng sẽ đi về đâu?

 

            Để trả lời cho thắc mắc đó Đức Phật nêu lên một câu chuyện mà một số các dịch giả Tây phương cho rằng là khôi hài (humour / hóm hỉnh, hài hước), thế nhưng câu chuyện dường như chỉ mang tính cách dí dỏm, cụ thể và thiết thực - với một vài nét châm biếm nào đó, nếu có thể nói như vậy - nhằm giúp một người chủ gia đình còn trẻ có thể hiểu được đặc tính của bốn thành phần căn bản sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt không lưu lại một dấu vết nào trong thế giới này. Câu chuyện diễn tiến như sau)    

 

Tham vấn các vị Thiên nhân

 

            "Này Kevaṭṭa, trước kia ý nghĩ sau đây cũng đã từng hiện ra trong tri thức của một người tỳ-kheo trong chính Tăng đoàn gồm các tỳ-kheo đông đảo này: 'Bốn thành phần căn bản - [gồm] đặc tính của đất (các chất rắn của cơ thể), đặc tính của nước (các chất lỏng của cơ thể), đặc tính của lửa (hơi ấm của cơ thể) và đặc tính của gió (hơi thở, không khí) - sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả (một dấu vết nào cả: đất thành đất, nước thành nước, hơi nóng trở thành hơi nóng, không khí trở thành không khí), thì [các đặc tính của] chúng sẽ đi về đâu?' Người tỳ-kheo này (sau khi tự hỏi như vậy) bèn tập trung tâm thần thật mạnh, đến độ làm hiện ra một con đường trong tâm thức cô đọng của mình, đưa mình đến gặp các vị Thiên nhân (Deva) (xin lưu ý tín ngưỡng phổ quát và đại chúng thời bấy giờ là Ấn giáo, các vị Thiên nhân và các cõi Trời là các ý niệm trong tín ngưỡng này và đã ăn sâu vào nền văn hóa dân gian thời bấy giờ. Vì vậy Đức Phật cũng đã vay mượn một số thuật ngữ và ý niệm trong nền văn hóa đại chúng này để giảng dạy Dhamma của Ngài).  Người tỳ-kheo này liền tìm gặp các vị Thiên nhân trong đoàn Tùy tùng (Retinue) của Bốn Vị Đại Vương, khi đến nơi thì hỏi các vị ấy như sau: 'Này các bạn, bốn thành phần căn bản -  [gồm] đặc tính của đất, đặc tính của nước, đặc tính của lửa và đặc tính của gió - sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả?       

           

            "Sau khi câu hỏi được nêu lên, thì các vị trong đoàn Tùy tùng của Bốn Vị Đại Vương trả lời như sau: 'Chúng tôi cũng không biết là [các đặc tính của] bốn thành phần căn bản đó ... sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả. Thế nhưng [cũng may là có] Bốn Vị Đại Vương ở cấp bậc cao hơn và cũng tuyệt vời hơn chúng tôi. May ra họ có thể hiểu được bốn thành phần căn bản đó... sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả.'    

            "Người tỳ-kheo bèn tìm gặp Bốn Vị Đại Vương, và khi gặp được họ thì hỏi họ như sau: 'Này các bạn, bốn thành phần căn bản... sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả?

 

            "Sau khi câu hỏi được nêu lên, thì Bốn Vị Đại vương đều trả lời như sau: 'Chúng tôi cũng không biết bốn thành phần căn bản... sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả. 'Thế nhưng [cũng may là có] các vị Thiên nhân Ba-Mươi-Ba ở cấp bậc cao hơn và tuyệt vời hơn chúng tôi. May ra họ có thể hiểu được...'

 

            "Người tỳ-kheo lại tìm gặp các vị Thiên nhân Ba-Mươi-Ba, và khi gặp được họ thì hỏi họ như sau: 'Này các bạn, bốn thành phần căn bản... sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả?'

          
           "Sau khi câu hỏi được nêu lên thì các vị Thiên nhân Ba-Mươi-Ba trả lời người tỳ-kheo như sau: 'Chúng tôi cũng không biết bốn thành phần căn bản... sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả. Thế nhưng [cũng may là] có vị Sakka (Vua của các vị Thiên nhân) là vị quản lý các Thiên nhân, thuộc cấp bậc cao hơn và tuyệt vời hơn chúng tôi. Vị này may ra có thể hiểu được...'

           

            "Người tỳ-kheo lại tìm gặp vị Sakka là vị Quản lý các Thiên nhân, và khi gặp được vị này thì hỏi vị này như sau: 'Này bạn, bốn thành phần căn bản... sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả?'

 

            "Sau khi câu hỏi được nêu lên, thì vị Sakka, vị Quản lý các Thiên nhân, trả lời người tỳ-kheo như sau: 'Tôi cũng không biết bốn thành phần căn bản... sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả. Thế nhưng [cũng may là] có các vị Yāma (Dạ-ma / Các thần chết / Gods of the Death / các vị Thiên nhân của giây phút cuối cùng / Devas of the Hours) ở cấp bậc cao hơn và tuyệt vời hơn tôi. May ra họ có thể biết..., ...

 

             "Các vị Yāma nói: "Chúng tôi cũng không biết... Thế nhưng [cũng may là] có vị Thiên nhân là Suyāma (Viêm-ma-thiên / vị Lãnh đạo các vị Yama / chief of the Yama devas). Vị này may ra có thể biết..., ...

           
       "Vị Suyāma nói: 'Tôi cũng không biết... Thế nhưng [cũng may là] có các vị Tusita (Các vị Thiên nhân nơi cõi trời Đâu suất)... May ra họ có thể biết...'

           

            "Các vị Tusita nói: 'Chúng tôi cũng không biết ... Thế nhưng [cũng may là] có vị Santusita... May ra vị này có thể biết...'

           

            "Vị Santusita nói: 'Tôi cũng không biết... Thế nhưng [cũng may là] là có các vị Thiên nhân Nimmanarati (Các vị Thiên nhân say mê các việc sáng tạo / các vị "kỹ sư" trên cõi Trời)... May ra các vị này có thể biết...'

           

            "Các vị Thiên nhân Nimmanarati nói: 'Chúng tôi cũng không biết... Thế nhưng [cũng may là] có vị Thiên nhân tên là Sunimmita... May ra vị này có thể biết...'

 

            "Vị Thiên nhân Sunimmita nói: Tôi cũng không biết... Thế nhưng [cũng may là] có các vị Thiên nhân Paranimmitavasavatti (theo sự giải thích của nhà sư Thanissaro Bhikkhu thì đây là các vị Thiên nhân giữ  vai trò  kiểm soát các sáng tạo của các vị Thiên nhân khác / Devas Weilding control over the creations of others)... May ra các vị này có thể biết...'

            "Các vị Thiên nhân Paranimmitavasavatti nói: 'Chúng tôi cũng không biết ... Thế nhưng [cũng may là] có vị Thiên nhân là Paranimmita Vasavatti... Vị này may ra có thể biết...'

 

            "Người tỳ-kheo bèn tìm gặp vị Thiên nhân Vasavatti, khi gặp được vị này thì hỏi vị này như sau: 'Này bạn, bốn thành phần căn bản sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả?

 

            "Sau khi câu hỏi được nêu lên, thì vị Thiên nhân Vassavatti nói với người tỳ-kheo như sau: 'Tôi cũng không biết bốn thành phần căn bản sẽ đi về đâu... sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả. Thế nhưng [cũng may là] có Đoàn Tùy tùng của các vị Thiên nhân Brahmā (Phạm thiên / các vị Thiên nhân ở cấp bậc cao nhất trên cõi Trời, gồm có ba vị tất cả, và vị cao nhất là vị Sáng tạo ra Thế giới) ở cấp bậc cao hơn và tuyệt vời hơn tôi. May ra họ có thể hiểu được bốn thành phần căn bản sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả.'

 

            "Người tỳ-kheo bèn phát động sự tập trung tâm thần làm hiện ra con đường đưa mình tìm gặp đoàn Tùy tùng của các vị Brahmā. Khi gặp được đoàn Tùy tùng của các vị Brahmā thì tiến đến bên cạnh họ và hỏi họ như sau: 'Này các bạn, bốn thành phần căn bản - [gồm] đặc tính của đất, đặc tính của nước, đặc tính của lửa và đặc tính khí - sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả?

 

            "Sau khi câu hỏi được nêu lên, thì đoàn Tùy tùng các vị Thiên nhân Brahmā trả lời người tỳ-kheo như sau: 'Chúng tôi cũng không biết bốn thành phần căn bản sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả. Thế nhưng [cũng may là] có vị Đại Thiên nhân Brahmā, là vị Chiến thắng (the Conqueror), vị Vô địch (Unconqueror), vị Quán thấy được tất cả (the All-seeing), vị Toàn năng (the All-Powerful), vị Chúa tể (the Sovereign Lord), vị An bài (the Maker), vị Sáng tạo (the Creator), vị Lãnh đạo (the Chief), vị Bổ nhiệm và Cai trị (the Appointer and Ruler), vị Cha của Tất cả những gì Đã Xảy Ra và Sẽ Xảy Ra (the Father of All That Have Been and Shall Be). Vị này ở cấp bậc cao hơn và tuyệt vời hơn chúng tôi. May ra vị này có thể biết được bốn thành phần căn bản (đất, nước, lửa, khí)... sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả.'

 

            Đến đây người tỳ kheo không còn biết vị Đại Thiên nhân Brahmā hiện đang ở đâu [để đi tìm] đành phải hỏi đoàn Tùy tùng gồm các vị Brahmā xem vị Đại Brahmā (Đại Phạm thiên / Phạm Thiên Vương) đang ở đâu?

 

            "'Thế nhưng, này các bạn, các bạn có biết vị Đại Brahmā hiện đang ở đâu hay không?

 

            "'Này bạn tỳ-kheo, chúng ta cũng chẳng biết vị Đại Brahmā ấy đang ở đâu và đang đi về hướng nào. Thế nhưng mỗi khi có các dấu hiệu ánh sáng tỏa rộng và rạng ngời phát sinh thì vị Đại Brahmā sẽ xuất hiện. Tức thời ánh sáng rạng ngời hiện ra báo hiệu vị Đại Brahmā sắp xuất hiện'.

 

            "Tức khắc sau đó vị Đại Brahmā hiện ra.

 

            "Tức thời người tỳ-kheo tiến đến phía vị Đại Brahmā, sau khi đến gần thì cất lời hỏi: 'Này bạn, vậy thì bốn thành phần căn bản - [gồm] đặc tính của đất, đặc tính của chất lỏng, đặc tính của lửa và đặc tính của khí - sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả?

 

          "Sau khi câu hỏi được nêu lên, thì vị Đại Brahmā trả lời người tỳ-kheo như sau: 'Này tỳ-kheo, Ta đây chính là Brahmā, vị Đại Brahmā, vị Chiến thắng, vị Vô địch, vị Quán thấy được Tất cả, vị Toàn năng, vị Chúa tể, vị An bài, vị Sáng tạo, vị Lãnh đạo, vị Bổ nhiệm và Cai trị, vị Cha của Tất cả những gì Đã Xảy Ra và Sẽ Xảy Ra' (Vị Đại Brahmā sở dĩ nói lảng, không trực tiếp trả lời câu hỏi của người tỳ-kheo, là vì chính mình cũng không biết là bốn thành phần căn bản đi về đâu, và đấy chính là một trong các điểm khá hóm hỉnh trong câu chuyện).

 

            "Người tỳ-kheo lần thứ hai lại cất lời với vị Đại Brahmā như sau: ' Này bạn, tôi không hỏi bạn có đúng là vị Brahmā hay không, vị Đại Brahmā, vị Chiến thắng, vị Vô địch, vị Quán thấy được Tất cả, vị Toàn năng, vị Chúa tể, vị An bài, vị Sáng tạo, vị Lãnh đạo, vị Bổ nhiệm và Cai trị, vị Cha của Tất cả Những gì Đã Xảy Ra và Sẽ Xảy Ra. [Điều mà] mà tôi muốn hỏi bạn là bốn thành phần căn bản - [gồm] đặc tính của đất, đặc tính của chất lỏng, đặc tính của lửa, đặc tính của khí - sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, và không lưu lại một thứ gì cả?

           

               "Lần thứ hai vị Đại Brahmā lại trả lời người tỳ-kheo như sau: ''Này tỳ-kheo, Ta đây chính là Brahmā, vị Đại Brahmā, vị Chiến thắng, vị Vô địch, vị Quán thấy được Tất cả, vị Toàn năng, vị Chúa tể, vị An bài, vị Sáng tạo, vị Lãnh đạo, vị Bổ nhiệm và Cai trị, vị Cha của Tất cả của những gì Đã Xảy Ra và Sẽ Xảy Ra'.

           

            "Lần thứ ba người tỳ-kheo lại cất lời với vị Đại Brahmā như sau: 'Này bạn, tôi không hề hỏi bạn có đúng là vị Brahmā hay không, vị Đại Brahmā, vị Chiến thắng, vị Vô địch, vị Quán thấy được Tất cả, vị Toàn năng, vị Chúa tể, vị An bài, vị Sáng tạo, vị Lãnh đạo, vị Bổ nhiệm và Cai trị, vị Cha của Tất cả Những gì Đã Xảy Ra và Sẽ Xảy Ra. [Điều mà] mà tôi muốn hỏi bạn là bốn thành phần căn bản - [gồm] đặc tính của đất, đặc tính của chất lỏng, đặc tính của lửa, đặc tính của khí - sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả?'

           

            "Vị Đại Brahmā bèn nắm lấy tay của người tỳ-kheo kéo lại sát bên cạnh mình và nói [khe khẽ] với người tỳ-kheo như sau: 'Các vị Thiên nhân trong đoàn Tùy tùng của các vị Brahmā tin rằng: 'Không có bất cứ gì mà vị Đại Brahmā này lại không biết. Không có bất cứ gì mà vị Đại Brahmā này lại không thấy. Không có bất cứ một thứ gì mà vị Đại Brahmā này lại không đạt được sự thấu triệt. Không có bất cứ một thứ gì mà vị Đại Brahmā này lại không thực hiện được'. Chính vì vậy mà ta không dám nói ra trước mặt họ (thú nhận trước mặt những người tùy tùng của mình) là chính mình cũng không biết là bốn thành phần căn bản ấy..., sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả' (sự thú nhận của vị Đại Brahmā cho thấy tính cách hóm hỉnh trong câu chuyện đi đến chỗ tột đỉnh của nó). Tất cả chỉ vì cung cách hành xử của bạn sai lầm (đi tìm các vị Thiên nhân trên Trời để hỏi một chuyện mà chính họ cũng không biết), bạn hành xử sai lầm rồi, bạn bất chấp (bypassing) [lời giảng dạy của] Đấng Thế Tôn, bạn đi tìm lời giải đáp cho thắc mắc của bạn không đúng nơi. Vậy bạn hãy tức khắc quay trở về bên cạnh Đấng Thế Tôn, và khi gặp Ngài thì nêu nêu lên thắc mắc ấy với Ngài. Dù Ngài sẽ trả lời như thế nào thì bạn cũng phải ghi khắc những lời ấy vào bên trong con tim mình' (đây cũng là một câu gián tiếp mà Đức Phật cảnh giác người thanh niên Kevaṭṭa).

            "Sau đó, tương tự như một người lực sĩ co duỗi chân tay [một cách dễ dàng], người tỳ-kheo biến mất khỏi thế giới của các vị Brahmā và sau đó xuất hiện trở lại trước mặt ta ("ta" ở đây là Đức Phật, đang thuật chuyện về người tỳ-kheo thắc mắc về sự chấm dứt của bốn thành phần căn bản cho người thanh niên Kevaṭṭa đang ngồi nghe). Người tỳ-kheo vái chào ta và ngồi sang một bên. Sau khi an tọa thì người tỳ-kheo hỏi ta như thế này: 'Thưa Thế Tôn, bốn thành phần căn bản - [gồm] đặc tính của đất, đặc tính của chất lỏng, đặc tính của lửa và đặc tính của gió - sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một thứ gì cả?'

            "Sau khi câu hỏi đó được nêu lên, thì ta trả lời người tỳ-kheo như thế này: 'Trước đây từng có một số người buôn bán trên mặt biển (sea-faring merchants / các thương gia buôn bán và chuyên chở hàng hóa bằng đường biển) mang theo với họ một con chim nuôi làm cảnh từ trên bờ trước khi căng buồm để vượt đại dương. Khi nào [mất hút và lạc huớng] không trông thấy bờ thì họ thả con chim ra. Con chim sẽ bay lên cao theo hướng Đông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc hoặc bất cứ một hướng trung gian nào, và nếu nó trông thấy được bờ ở một hướng nào đó thì nó sẽ bay về hướng ấy. Nếu con chim không trông thấy bờ ở đâu cả thì nó sẽ bay trở về thuyền (con chim bay lên thật cao trên không trung để trông thấy bờ, thế nhưng nếu nó vẫn không trông thấy bờ ở một hướng nào cả thì tất nó sẽ phải bay trở lại và đáp xuống thuyền, bởi vì nó sẽ không đủ sức để bay mãi trên không trung. Con chim phải là chim làm cảnh từ trên bờ, bởi vì các con chim biển - chim hải âu chẳng hạn - thì nó có thể đáp xuống nước và nổi lềnh bềnh trên mặt sóng. Đây cũng là một kinh nghiệm cho những người "muốn đi thật xa" bằng "thuyền đánh cá"). Người tỳ-kheo từng dù hành thật xa đến tận các cõi Brahmā, thế nhưng vẫn không tìm được câu giải đáp cho thắc mắc của mình. Đối với Kevaṭṭa cũng vậy [giống như người tỳ kheo ấy] hãy cứ tìm về với ta.  

 

            (Sau đây là cách mà Đức Phật cho Kevaṭṭa biết là bốn thành phần căn bãn sẽ đi về đâu. Thế nhưng trước khi trực tiếp đưa ra câu giải đáp thì Đức Phật cho biết là cách nêu lên thắc mắc đó không đúng, mà phải hỏi rằng nơi nào không có chỗ cho bốn thành phần căn bản đặt chân vào đó, lưu lại dấu vết của chúng tại nơi đó)

 

            "Không nên đặt câu hỏi theo cách đó [tức là]: 'Bốn thành phần căn bản - [gồm] đặc tính của đất, đặc tính của nước, đặc tính của lửa, đặc tính của khí -  sẽ đi về đâu, sau khi chấm dứt, không để lại một thứ gì cả, mà phải đặt câu hỏi như thế này:

 

"'Nơi nào mà nước, đất, lửa và gió

không lưu lại một dấu chân nào (một vết tích nào)?

Nơi nào mà danh xưng và hình tướng, dù là dài hay ngắn,

Thô thiển hay tinh tế,

Xinh đẹp hay xấu xí,

Tất cả đều đi đến chỗ chấm dứt?

 

"'Câu trả lời sẽ là:

 

Tri thức không có một mặt phẳng nào (để đặt chân lên đó),

[Nó tỏa rộng đến] vô biên,

Rạng ngời cùng khắp:

Nơi đó, bốn thành phần căn bản

- (gồm) đặc tính của đất, đặc tính của nước, đặc tính của lửa, đặc tính của gió -

không lưu lại một dấu chân nào (một vết tích nào).

Tại nơi đó, dù là dài hay ngắn,

Thô thiển hay tinh tế,

Xinh đẹp hay xấu xí,

Tất cả mọi danh xưng và hình tướng đều đi đến chỗ chấm dứt.

Với sự chấm dứt đó (của sự sinh hoạt) của tri thức,

từng thứ một (trong số các đặc tính của bốn thành phần) đều đi đến chỗ chấm dứt'".

 

            Đấy là những lời thuyết giảng của Đấng Thế Tôn. Người chủ gia đình Kevaṭṭa cảm thấy rất hài lòng và vui sướng trước những lời thuyết giảng đó của Đấng Thế Tôn.

 

 Vài lời ghi chú của người chuyển ngữ

 

            Học giả và cũng là một cư sĩ người Malaysia là Piya Tan đã mở đầu bản dịch bài kinh này của ông bằng một câu trích dẫn của văn hào người Mỹ John Steinbeck (1902-1968, đoạt giải Văn chương Nobel năm 1962). Câu trích dẫn này như sau:

 

Tôi có thể tin rằng một vị thầy vĩ đại cũng là một nghệ sĩ tài ba,

và những vị thầy tài ba cũng hiếm hoi như những người nghệ sĩ vĩ đại.

Sự giảng dạy cũng có thể xem là một nghệ thuật to lớn nhất,

cho đến khi nào cơ sở tiếp nhận [sự giảng dạy đó] vẫn còn là trí óc con người

và lãnh vực tâm linh.

 

            Nguyên văn tiếng Anh của câu này như sau:

 

"I have come to believe that a great teacher is a great artist

and that there are as few as there are any other great artists.

Teaching might even be the greatest of the arts

since the medium is the human mind and spirit."

 

            Piya Tan đã nhận thấy được nghệ thuật thuyết giảng siêu việt đó của một vị Thầy vĩ đại qua bài kinh trên đây. Nghệ thuật thuyết giảng nói chung là một yếu tố khá quan trọng trong việc truyền đạt tư tưởng và sự hiểu biết. Thế nhưng dường như không quá quan trọng đối với những người nghe có một vốn liếng hiểu biết và một khả năng nhận thức nào đó. Trái lại đối với những người chưa có các kinh nghiệm suy tư lâu dài, thì việc giảng dạy phải cần đến một nghệ thuật khéo léo và tinh vi hơn.

 

            Đức Phật giảng bài kinh này cho một người thanh niên bình dị chưa có một ý niệm nào về giáo lý của Ngài, mà chỉ tìm Ngài để thỉnh cầu Ngài sai một người tỳ kheo thực thi các phép lạ để chinh phục được nhiều người hơn. Trước một người thanh niên nhiệt tình nhưng dường như khá thật thà đó, Đức Phật đã thuyết giảng bài kinh này hoàn toàn bằng phương pháp ẩn dụ, dựa vào các hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống và các thói tục trong sự sinh hoạt chung của xã hội.

 

            Đức Phật cho biết là giáo lý của Ngài không phải là đề làm phép lạ mà là để biến một con người bình dị trở thành cao quý hơn, và sự biến cải đó tự nó cũng đã là một phép lạ. Đức Phật không giảng dạy phép lạ cho các đệ tử của mình, thế nhưng vào một lúc nào đó các đệ tử ấy có thể nghe thấy các âm thanh mà các kẻ khác không nghe thấy được; đọc được tâm thức các kẻ khác mà chính các kẻ khác tự mình không ý thức được; nhớ lại được các tiền kiếp của mình trong khi các kẻ khác chỉ loanh quanh với những sự thèm khát và bám víu trong sự hiện hữu hiện tại; trông thấy được sự biến mất và hiển hiện của tất cả chúng sinh trong thế giới, trong lúc chính các chúng sinh ấy không có một ý niệm nào về các sự diễn tiến vừa phù du nhưng cũng vừa triền miên đó của chính mình. Đấy là các phép lạ thiết thực và cụ thể mang lại từ sự giảng dạy và học hỏi, không phải là các phép lạ nhằm mục đích thu phục kẻ khác hoặc chỉ là các "xảo thuật" tinh xảo làm kế sinh nhai. 

 

            Thế nhưng sự giảng dạy của Đức Phật không dừng lại ở các phép lạ đó mà còn đi xa hơn thế rất nhiều, đấy là câu giải đáp cho một thắc mắc to lớn nhất, gay go nhất mà tất cả các vị Thiên nhân trên khắp các cõi Trời đều mù tịt. Vậy sự thắc mắc đó là gì? Các đặc tính của bốn thành phần căn bản - đất, nước, lửa và khí - tạo ra danh xưng và hình tướng của một cá thể sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt và không để lại một dấu vết nào trong thế giới hiện tượng này? 

 

            Câu hỏi đó, sự thắc mắc nan giải đó là cả một sự ám ảnh to lớn nhất đối với con người nói chung, dù là ở phương trời nào, vào thời đại nào, thuộc một nền văn hóa nào. Nếu tất cả các vị Thiên nhân trên khắp các cõi Trời không giải đáp được thì tất chúng ta cũng sẽ không giải đáp được. Thế nhưng theo sự giảng dạy của Đức Phật qua bài kinh này thì câu giải đáp cho thắc mắc đó mang hai khía cạnh hay hai trường hợp khác nhau. Trong trường hợp thứ nhất, nếu các đặc tính của bốn thành phần tạo ra danh xưng và hình tướng của một cá thể tiếp tục đặt "dấu chân" thật sâu và thật đậm nét trên dòng tri thức của một cá thể, thì chúng sẽ khiến cho cá thể ấy tiếp tục hiện hữu triền miên trong thế giới này. Ngược lại, trong trường hợp thứ hai, nếu các đặc tính của bốn thành phần căn bản tạo ra danh xưng và hình tướng của một cá thể không tìm được một chỗ nào bằng phẳng, vững chắc và cụ thể trên dòng của tri thức của cá thể ấy để đặt "dấu chân" của chúng, khi dòng tri thức đó đã trở nên Vô biên, Rạng ngời và Cùng khắp, thì đấy chính là sự Giải thoát của sự "Giải thoát" cuối cùng. 

 

"'Nơi nào mà nước, đất, lửa và gió

không lưu lại một dấu chân nào (một vết tích nào)?

Nơi nào mà danh xưng và hình tướng, dù là dài hay ngắn,

Thô thiển hay tinh tế,

Xinh đẹp hay xấu xí,

Tất cả đều đi đến chỗ chấm dứt?

 

"'Câu trả lời sẽ là:

 

Tri thức không có một mặt phẳng nào (để đặt chân lên đó),

[Nó tỏa rộng đến] vô biên,

Rạng ngời cùng khắp:

Nơi đó, bốn thành phần căn bản -

(gồm) đặc tính của đất, đặc tính của nước, đặc tính của lửa và đặc tính của gió -

không lưu lại một dấu chân nào.

Tại nơi đó, dù là dài hay ngắn,

Thô thiển hay tinh tế,

Xinh đẹp hay xấu xí,

Tất cả mọi danh xưng và hình tướng đều đi đến chỗ chấm dứt.

Với sự chấm dứt đó (của sự sinh hoạt) của tri thức,

từng thứ một (trong số các đặc tính của bốn thành phần) đều đi đến chỗ chấm dứt'".

  

            "Thế giới" tạo ra "tri thức", "tri thức" tạo ra "thế giới", khi nào hai thứ ấy vẫn còn thúc đẩy nhau, níu kéo nhau để cùng hiện hữu, thì mỗi cá thể sẽ vẫn còn tiếp tục xoay vần trong cái thế giới do tri thức của cá thể ấy tự tạo ra cho chính mình. Khi nào tri thức không còn tạo ra thế giới nữa, và thế giới không còn lưu lại "dấu chân" của nó trên dòng của tri thức nữa, thì đấy sẽ là cách khiến sự trói buộc và xoay vần - giữa tri thức và thế giới, giữa thế giới và tri thức - sẽ chấm dứt. Sự tách rời dứt khoát đó của tri thức với thế giới do nó tạo ra cho chính nó là sự Giải thoát cuối cùng của nó, biến nó hóa thành Vô biên, Rạng ngời và Cùng khắp, và đó cũng là sự Giác ngộ tối thượng mang lại từ sự giảng dạy. 

 

            Trên đây là ý nghĩa chủ yếu của toàn bộ bài kinh. Sau đây chúng ta hãy tìm hiểu thêm một vài chi tiết về bài kinh khá khúc triết này.

 

Tựa của bài kinh 

 

            Chữ Kevaṭṭa nơi tựa của bài kinh là tên gọi của một người thế tục tham vấn Đức Phật. Trong bản kinh gốc bằng tiếng Pali nhân vật này được gọi là gahapati-putto, tiền ngữ gahapati có nghĩa là một người bình dị / a commoner hay một người chủ gia đình / a house  holder, hậu ngữ putto có nghĩa là một thanh niên, một người con trai / a son, a child. Do đó có thể hiểu chữ gahapati-putto là một người chủ gia đình, một người thế tục, một thanh niên trẻ tuổi. Hầu hết các bản dịch sang các ngôn ngữ Tây phương được tham khảo đều gọi nhân vật này là người chủ gia đình trẻ tuổi. Trong bản dịch của HT Thích Minh Châu và của Piya Tan thì gọi là "người con trai của người chủ gia đình", có nghĩa là một người con trai trong gia đình nhưng chưa lập gia đình và ở riêng. Trong bản dịch dựa vào Hán tạng của HT Thích Tuệ Sỹ thì gọi là "người con trai trưởng giả" (有長者子 / hữu trưởng giả tử) có nghĩa là người con trai trưởng trong gia đình, thế nhưng chữ "trưởng giả" có thể khiến hiểu lầm là một người giàu sang và quý phái. Dù cách gọi không thống nhất giữa các dịch giả về chữ gahapati-putto, thế nhưng cũng có thể tạm hiểu nhân vật này là một người thanh niên bình dị, một người chủ gia đình còn trẻ, hoặc một người con trai còn sống trong gia đình. Nói chung cách gọi "người chủ gia đình" rất thường thấy trong kinh điển Pali chỉ đơn giản có nghĩa là "một người thế tục", khác với "một người tỳ-kheo" sống bên ngoài khung cảnh gia đình và sự sinh hoạt xã hội.

 

            Trong các tự điển đã được tham khảo, tên gọi Kevaṭṭa của người thanh niên thế tục, cũng có nghĩa là "người đánh cá" hay "người chài lưới" (fisher, fisherman). Trong bản dịch của Piya Tan, tên gọi Kevaṭṭa cũng được ghi chú thêm ở cuối trang là một người đánh cá. Do vậy cũng có thể hiểu tên gọi Kevaṭṭa chỉ là một biệt danh, bởi vì trong kinh điển bằng tiếng Pali thường thấy nêu lên biệt danh của các nhân vật, nhưng không nêu lên tên tục. Phải chăng cách gọi đó là một thói tục vào thời bấy giờ nhằm kính trọng người khác, hoặc cũng có thể là cách nêu lên cá tính, nghề nghiệp, vị thế của họ trong xã hội.

 

            Tuy nhiên trong Tam Tạng Kinh của Tích Lan và trong bản dịch của Rhys David về bài kinh này thì chữ Kevaṭṭa được viết là Kevaḍḍha, chữ này không tìm thấy trong các tự điển tham khảo, do đó có thể là tên gọi, không phải là biệt danh? Trái lại trong Hán Tạng (A-hàm Kinh) thì nhân vật này lại mang tên là Kiên Cố (堅固), trong bản dịch của HT Thích Tuệ Sỹ dựa vào A-hàm Kinh do đó cũng gọi nhân vật này là Kiên Cố. Trong bản dịch của HT Thích Minh Châu dựa vào bản kinh gốc bằng tiếng Pali thì tên của nhân vật này là Kevaddha, thế nhưng cũng được ghi chú thêm bên cạnh trong hai dấu ngoặc đơn là Kiên Cố. Tên gọi "Kiên Cố" không biết do đâu mà ra, bắt đầu xuất hiện từ trong A-hàm Kinh hay từ trước đó trong các kinh bằng tiếng Phạn dịch lại từ tiếng Pali, mà ngày nay ít được quan tâm và do đó rất khó truy tìm. Ngoài ra cũng có thể nghĩ rằng "Kiên cố" (堅固/Jiāngù) là một chữ dịch âm. Ngoài ra trong quyển "Từ điển Phật Học Hán Việt" (Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội - 1998) thuật ngữ Kiên cố (堅固) được giải thích như sau: "Như rễ cây vững chắc không thể nhổ được thì gọi là Kiên, đi theo với vật khác mà không thay đổi trạng thái vốn có thì gọi là Cố. Chỉ tâm niệm không thay đổi, không lay chuyển thì gọi là Kiên cố". Vì vật theo quyển tự điển Phật học này thì chữ Kiên Cố không phải là một tên gọi. Độc giả có thể xem thêm các ghi chú khác về thuật ngữ Kiên Cố trong bản kinh tiếng Hán trong Phục lục dưới đây.

 

Sự giảng dạy bằng phương pháp ẩn dụ trong kinh Kevaṭṭa-Sutta

 

            Sở dĩ dài dòng về tên gọi Kevaṭṭa như trên đây là để cho thấy nhân vật này không những là một người thế tục trẻ tuổi mà còn là một người sinh sống bằng một nghề bình dị. Dù nhiệt tình thế nhưng người thanh niên này có thể là không có nhiều kinh nghiệm hiểu biết về lý thuyết, mà chỉ tìm Đức Phật để thỉnh cầu Ngài sai các tỳ kheo làm phép lạ để chinh phục được nhiều người hơn. Nhằm thích ứng với trình độ hiểu biết và xu hướng của người nghe, Đức Phật đã thuyết giảng bài kinh này, từ phần mở đầu cho đến đoạn cuối, hoàn toàn bằng phương pháp ẩn dụ dựa vào các hình ảnh cụ thể và thiết thực. Chúng ta hãy nêu lên ba trường hợp điển hình sau đây.

 

            Trường hợp thứ nhất Đức Phật ví niềm vui sướng khi loại bỏ được năm thứ chướng ngại cũng tương tự như một căn bệnh đã được chữa khỏi, một món nợ đã trả xong, cảnh lao tù đã chấm dứt, thời gian nô lệ đã mãn hạn, đoạn đường hoang vắng đã đi qua. Trường hợp thứ hai Đức Phật mô tả bốn thể dạng lắng sâu của tâm thức bằng các hình ảnh thật giản dị. Ao sen ngập tràn nước mát và trong vắt biểu trưng cho một tâm thức đã được tinh khiết hóa. Mạch nước ngầm duy nhất phun lên từ đáy ao biểu trưng cho dòng luân lưu sâu kín và nguyên sinh của tri thức. Các hoa sen mọc lên từ đáy ao, ngập trong nước hoặc ngoi lên khỏi mặt nước biểu trưng cho sự Giải thoát.

 

            Đặc biệt hơn cả là trường hợp thứ ba, Đức Phật nêu lên câu chuyện thật dí dỏm, vừa khơi động sự tò mò và chú tâm của người thanh niên Kevaṭṭa, vừa nêu lên một cách kín đáo và khéo léo về một chủ đề vô cùng khúc triết trong Phật giáo: Các đặc tính của bốn thành phần căn bản tạo ra danh xưng và hình tướng của một cá thể sẽ đi về đâu sau khi chấm dứt, không lưu lại một dấu vết nào trong thế giới này?

 

Từ sự Giải thoát đến sự Giác ngộ tối thượng

 

            Thắc mắc trên đây được giải đáp trong phần kết luận của bài kinh. Bốn thể dạng lắng sâu của tâm thức giúp người hành thiền cảm nhận được sự Giải thoát và thực hiện được chính sự Giải thoát đó. Đến khi tịch diệt, qua sự Giải thoát đó, thì các đặc tính của bốn thành phần căn bản tạo ra danh xưng và hình tướng trước đây của người hành thiền sẽ không đi về đâu cả, mà chấm dứt bên trong cái tri thức giác ngộ đã trở thành Vô biên, Rạng ngời và Cùng khắp đó của chính mình. Sư ý thức đó, sự hiểu biết siêu việt đó nói lên là sự Giải thoát của cả sự "Giải thoát", và cũng có nghĩa là sự Giác ngộ tối thượng.

 

            Nếu tri thức giải thoát trở thành Vô biên, Rạng ngời và cùng khắp không không có một nơi nào "bằng phẳng" để các đặc tính của bốn thành phần cùng với danh xưng và hình tướng đặt vết chân của chúng trong đó, thì trái lại một tri thức bám víu, đam mê và thèm khát là một mảnh đất vững chắc giúp cho các đặc tính của bốn thành căn bản cùng danh xưng và hình tướng đặt chân lên đó. Các vết chân đó chính là các dấu vết của kamma / "nghiệp", tức là nguyên nhân, là động cơ thúc đẩy đưa tri thức của một cá thể gia nhập trở lại với bốn thành phần căn bản khác qua các danh xưng và hình tướng khác trong thế giới này. Các đặc tính của bốn thành phần căn bản cùng với các danh xưng và hình tướng "mới mẻ" đó hoàn toàn phản ảnh một cách trung thực với những gì mà tri thức trước đó đã tạo ra và ghi khắc trên dòng luân lưu của chính nó. Sự trung thực đó cũng tương tự như "một cọng sậy rút ra từ chiếc vỏ bọc ngoài của nó, như một thanh kiếm rút ra khỏi bao kiếm, như một con rắn được kéo ra khỏi lớp da lột của nó". Cái mong manh của cọng sậy, cái sắc bén của thanh kiếm và nọc độc của con rắn là những gì sẽ hủy hoại và làm chấm dứt các đặc tính của bốn thành phần cùng với danh xưng và hình tướng của một cá thể trong cuộc sống hiện tại này.     

 

            Đấy là ý nghĩa của toàn bộ bài kinh trên đây. Vậy thiết nghĩ đôi khi chúng ta cũng nên   nhìn lại việc tu tập của mình. Nếu chúng ta bước theo sự giảng dạy thì chúng ta sẽ trông thấy một vị Thầy, nếu chúng ta bước theo 84 000 phương tiện thiện xảo thì chúng ta sẽ chỉ trông thấy một người nghệ sĩ mà thôi.

 

            Chúng ta hãy nên buông thả tâm hồn mình giúp nó bay lên thật cao, thế nhưng nếu nó chẳng thấy thiên đường hay cực lạc ở đâu cả, thì nó sẽ quay về với con tim mình, với những khổ đau sâu kín của chính mình và của tất cả chúng sinh, tương tự như một con chim dù bay thật cao tận lưng chừng trời, thế nhưng nếu nó chẳng thấy bến bờ nào cả, thì nó sẽ đáp xuống chiếc thuyền đang bập bềnh trên muôn ngàn ngọn sóng của đại dương mênh mông.

 

 Tư liệu xem thêm

 

            Dưới đây là bảng liệt kê một số tư liệu chủ yếu giúp độc giả tham khảo và xem thêm:

 

1- Bản dịch của nhà sư Thanissaro Bhikkhu:

https://www.dhammatalks.org/suttas/DN/DN11.html

            Trong bản dịch này có nhiều phân đoạn đã được cắt bớt, độc giả có thể xem các phân đoạn này trong các bài kinh khác theo sự chỉ dẫn của dịch giả Thanissaro Bhikkhu.

 

2- Bản dịch tiếng Pháp trên trang mạng canonpali/org:

http://www.canonpali.org/tipitaka/suttapitaka/digha/dn11.html

            Bản dịch này được dựa vào bản dịch tiếng Anh của nhà sư Thanissaro Bhikkhu, nhưng đầy đủ hơn, không cắt bớt một đoạn nào cả". Một vài thuật ngữ cùng một vài câu trong bản dịch tiếng Pháp này khác với bản dịch tiếng Anh của nhà sư Thanissaro Bhikkhu. Thế nhưng các sự khác biệt đó cũng có thể là một sự bổ túc giữa hai hai ngôn ngữ khác nhau.

 

3- Bản dịch của Piya Tan:

            Kevaddha Sutta The Discourse to Kevaddha (pdf)

            (xin gõ  các chữ  này vào một công cụ  tìm kiếm)

            Bản dịch này rất đầy đủ và có nhiều ghi chú mang tính cách giáo khoa và hàn lâm (academic), có thể giúp việc nghiên cứu dễ dàng hơn.        

 

4- Bản dịch của Rhys David:

https://suttacentral.net/dn11/en/rhysdavids-brasington?reference=none&highlight=false

            Bản dịch này rất đầy đủ, từ chương và rất xưa - đầu thế kỷ XX - đã được một học giả khác là Leigh Brasington hiệu đính phù hợp với Anh ngữ ngày nay. Ngoài ra bản dịch này cùng với một số lời bình giải cũng có thể tìm thấy trên hai trang mạng khác theo các địa chỉ liên kết:

https://obo.genaud.net/dhamma-vinaya/pts/dn/dn.11.rhyt.pts.htm

http://www.leighb.com/dn11.htm

 

5- Bản kinh gốc bằng tiếng Pali:

https://obo.genaud.net/dhamma-vinaya/pali/dn/dn.11.pali.bd.htm

            Đây là bản gốc bằng tiếng Pali trong Tam Tạng Kinh của Phật giáo Tích Lan. Xin lưu ý về một điểm khá quan trọng là ba Tam Tạng Kinh của ba nước Tích Lan, Miến Điện và Thái Lan đều có một số điểm khác biệt nhau.

 

6- Bản kinh Kevaṭṭa-Sutta bằng tiếng Hán (堅固經) trong Hán Tạng (A-hàm Kinh):    

https://legacy.suttacentral.net/lzh/da24

            Nói chung các bản kinh trong Hán tạng (A-hàm Kinh) dịch từ tiếng Phạn có rất nhiều điểm dị biệt từ hình thức đến nội dung - so với các bản kinh nguyên thủy bằng tiếng Pali. Bản kinh Kevaṭṭa-Sutta trên đây là một thí dụ điển hình. Bản kinh tiếng Hán - Kiên Cố Kinh - được thực hiện từ đầu thế kỷ thứ V, do hai dịch giả: một gốc người Ấn là Buddhayaśsa (Phật Đà Da Xá) và một gốc người Hán là Trúc Phật Niệm (竺佛念).  Nếu đối chiếu bản dịch này với các bản dịch khác căn cứ vào bản gốc bằng tiếng Pali, thì sẽ thấy rất nhiều khác biệt. Bản tiếng Hán này có thể khó truy tìm đối với một số độc giả, do đó xin sao chép lại trong Phụ lục dưới đây.

 

7- Bản dịch tiếng Việt dựa vào bản gốc bằng tiếng Pali của HT Thích Minh Châu:  
 

            Bản dịch này xuất hiện trên rất nhiều trang mạng:
https://thuvienhoasen.org/a220/11-kinh-kevaddha-kien-co-kevaddha-sutta

https://thienphatgiao.org/kinh-truong-bo11/

            Tuy được dựa vào bản gốc tiếng Pali, thế nhưng các thuật ngữ Phật giáo trong bản dịch này thì lại là các thuật ngữ tiếng Hán. Hơn nữa ngữ pháp của một số câu cũng rất gần với ngữ pháp tiếng Hán hơn là ngữ pháp tiếng Việt.

 

            8- Bản dịch tiếng Việt dựa vào bản gốc tiếng Hán của HT Thích Tuệ Sỹ:

https://thienphatgiao.org/kinh-truong-a-ham-kinh-kien-co/

           

            Sau hết xin nêu lên bảng đối chiếu về câu kết luận của bài kinh trong các bản dịch khác nhau, giúp việc phân tích và tìm hiểu được dễ dàng hơn.

 

Kinh Kevaṭṭa Sutta bằng tiếng Pali

(bản kinh gốc)

Bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pali của ThanissarioBhikkhu

Bản dịch tiếng Pháp dựa theo bản dịch tiếng Anh của Thanissaro Bhikkhu

Bản dịch từ tiếng Pali của HT. Thích Minh Châu

Bản dịch từ tiếng Hán trong A-hàm Kinh của HT. Thích Tuệ Sỹ

 

Na kho eso bhikkhu pañho evaṃ pucchitabbo: "kattha nu kho bhanto ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathīdaṃ: paṭhavidhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātu'ti?" Evañca kho ese bhikkhu pañho pucchitabbo:

"'Your question should not be phrased in this way: Where do these four great elements -- the earth property, the liquid property, the fire property, and the wind property -- cease without remainder? Instead, it should be phrased like this:

"Tu ne devrais pas formuler ta question ainsi. Où donc ces quatre grands éléments -- la propriété de la terre, la propriété liquide, la propriété ignée, et la propriété éolienne -- cessent-ils sans reste? Plutôt, tu devrais la formuler comme suit:

 

Này Tỷ-kheo, câu hỏi không nên hỏi như sau: “Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng ấy – địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại – đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?”. Này Tỷ-kheo, câu hỏi phải nói như sau:

 

Kattha āpo ca paṭhavī tejo vāyo na gādhati.
Kattha dīghañca rassañca aṇuṃ thūlaṃ subhāsubhaṃ,
Katta nāmañca rūpañca asesaṃ uparujjhatīti.

Where do water, earth, fire, & wind 
   have no footing?

Where are long & short,
    coarse & fine, 
   fair & foul,
    name & form
brought to an end?

Où donc l'eau, la terre, le feu et le vent
    ne reposent sur rien?
Où donc le long et le court,
    le gros et le fin,
    le beau et le laid,
    le nom et la forme
arrivent-ils à leur terme?

 

“Chỗ nào mà địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, dài ngắn, tế, thô, tịnh, bất tịnh không có chân đứng? Chỗ nào cả danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn?”

Do đâu không bốn đại:

Đất, nước, lửa và gió?

Do đâu không thô tế,

Và dài, ngắn, đẹp, xấu?

Do đâu không danh sắc,

Vĩnh diệt không dư tàn?

Tatra veyyākaraṇa bhavatī:

"'And the answer to that is:

"'Et la réponse à cela est:

 

Và đây là câu trả lời cho câu hỏi này:

 

Nên đáp:

Viññāṇaṃ anidassanaṃ
anantaṃ sabbato pabhaṃ

Consciousness without feature,
        without end,
    luminous all around:

Conscience sans caractéristiques,
 sans fin,
    lumineuse tout autour:

“Thức là không thể thấy, vô biên, biến thông hết thảy xứ.

Thức vô hình,

Vô lượng tự rạng rỡ;

Ettha āpo ca paṭhavī tejo vāyo na gādhati
Ettha dīghañca rassañca aṇuṃ thūlaṃ subhāsubhaṃ
Ettha nāmañca rūpañca asesaṃ uparujjhati.

Here water, earth, fire, & wind
    have no footing.
Here long & short
    coarse & fine
    fair & foul
    name & form
are all brought to an end.

Ici l'eau, la terre, le feu et le vent
    ne reposent sur rien.
Ici le long et le court
    le gros et le fin,
    le beau et le laid,
    le nom et la forme
arrivent tous à leur terme.

Ở đây, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng.

Ở đây, cũng vậy dài, ngắn, tế, thô, tịnh và bất tịnh.

Ở đây danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn.

 

Nó diệt, bốn đại diệt;

Thô, tế, đẹp, xấu diệt,

 

Viññāṇassa nirodhena etthetaṃ uparujjhatīti.

With the cessation of [the activity of] consciousness
    each is here brought to an end.'"

Avec la cessation de [l'activité de] la conscience
    chacun arrive ici à son terme.'"

 

Khi thức diệt, ở đây mọi thứ đều diệt tận”.

 

Thức diệt, hết thảy diệt.

 

Bảng đối chiếu câu kết luận của bài kinh trong một số bản dịch khác nhau

 

Phụ Lục

 

堅固經 (Kiên Cố Kinh)

佛說長阿含經卷第十六

後秦弘始年佛陀耶舍共竺佛念譯

 

            Xin lưu ý các câu có chữ "kiên cố" dưới đây trong bản kinh tiếng Hán:

佛告堅固: Phật nói kiên cố (có thể hiểu: Phật nói [với] Kiên Cố, nhưng cũng có thể hiểu: Phật nói [một cách] cương quyết (?). Ngoài ra chữ "kiên cố" cũng có thể là một chữ dịch âm /Jiāngù (?). Tiếng Hán là sinh ngữ, do đó ý nghĩa, ngữ pháp cũng như cách phát âm có thể thay đổi với thời gian. Tiếng Hán trong A-hàm Kinh và tiếng Hán ngày nay cách nhau hơn 15 thế kỷ!)

佛復告堅固: Phật lại nói kiên cố

***

 

如是我聞:

一時,佛在那難陀城波婆利掩 次林中,與大比丘眾千二百五十人俱。

爾時, 有長者子,名曰堅固,來詣佛所,頭面禮足, 在一面坐。時,堅固長者子白佛言:「善哉!世尊! 唯願今者勑諸比丘:『若有婆羅門、長者子、居 士來,當為現神足顯上人法。』」

佛告堅固: 「我終不教諸比丘為婆羅門、長者、居士而 現神足上人法也。我但教弟子於空閑處 靜默思道,若有功德,當自覆藏,若有過 失,當自發露。」

時,堅固長者子復白佛言:「唯願 世尊勑諸比丘:『若有婆羅門、長者、居士來, 當為現神足,顯上人法。』」

佛復告堅固:「我 終不教諸比丘為婆羅門、長者、居士而現 神足上人法也。我但教弟子於空閑處靜 默思道,若有功德,當自覆藏,若有過失,當 自發露。」

時,堅固長者子白佛言:「我於上人 法無有疑也。但此那難陀城國土豐樂,人 民熾盛,若於中現神足者,多所饒益,佛及 大眾善弘道化。」

佛復告堅固:「我終不教比 丘為婆羅門、長者子、居士而現神足上人 法也。我但教弟子於空閑處靜默思道,若 有功德,當自覆藏,若有過失,當自發露。所 以者何?有三神足。云何為三?一曰神足,二 曰觀察他心,三曰教誡。云何為神足?長者 子!比丘習無量神足,能以一身變成無數, 以無數身還合為一,若遠若近,山河石壁,自 在無礙,猶如行空;於虛空中結加趺坐,猶 如飛鳥;出入大地,猶如在水;若行水上; 猶如履地;身出烟火,如大火聚,手捫日 月,立至梵天。若有得信長者、居士見此比 丘現無量神足,立至梵天,當復詣餘未得 信長者、居士所,而告之言:『我見比丘現無 量神足,立至梵天。』彼長者、居士未得信者,語 得信者言:『我聞有瞿羅呪,能現如是無量 神變,乃至立至梵天。』」

佛復告長者子堅固: 「彼不信者,有如此言,豈非毀謗言耶?」

堅固 白佛言:「此實是毀謗言也。」

佛言:「我以是故, 不勑諸比丘現神變化,但教弟子於空閑 處靜默思道,若有功德,當自覆藏,若有過 失,當自發露。如是,長者!此即是我諸比丘 所現神足。

「云何名觀察他心神足?於是,比 丘現無量觀察神足,觀諸眾生心所念法, 隈屏所為皆能識知。若有得信長者、居士, 見比丘現無量觀察神足,觀他眾生心所念 法,隈屏所為皆悉識知,便詣餘未得信長 者、居士所,而告之曰:『我見比丘現無量觀察 神足,觀他眾生心所念法,隈屏所為皆悉能 知。』彼不信長者、居士,聞此語已,生毀謗言: 『有乾陀羅呪能觀察他心,隈屏所為皆悉能 知。』云何?長者子!此豈非毀謗言耶?」

堅固白 佛言:「此實是毀謗言也。」

佛言:「我以是故,不 勅諸比丘現神變化,但教弟子於空閑處 靜默思道,若有功德,當自覆藏,若有過失, 當自發露。如是,長者子!此即是我比丘現 觀察神足。

「云何為教誡神足?長者子!若如 來、至真、等正覺出現於世,十號具足,於諸 天、世人、魔、若魔天、沙門、婆羅門中,自身作證, 為他說法,上中下言,皆悉真正,義味清淨,梵 行具足。若長者、居士聞已,於中得信,得信 已,於中觀察自念:『我不宜在家,若在家者, 鈎鎖相連,不得清淨修於梵行。我今寧可 剃除鬚髮,服三法衣,出家修道,具諸功德, 乃至成就三明,滅諸闇冥,生大智明。所以者 何?斯由精勤,樂獨閑居,專念不忘之所得 也。』長者子!此是我比丘現教誡神足。」

爾時, 堅固長者子白佛言:「頗有比丘成就此三 神足耶?」

佛告長者子:「我不說有數,多有比 丘成此三神足者。長者子!我有比丘在此 眾中自思念:『此身四大,地、水、火、風,何由永滅?』 彼比丘倐趣天道,往至四天王所,問四天王 言:『此身四大,地、水、火、風,由何永滅?』

「長者子!彼 四天王報比丘言:『我不知四大由何永滅? 我上有天,名曰忉利,微妙第一,有大智慧, 彼天能知四大由何而滅。』彼比丘聞已,即倐 趣天道,往詣忉利天上,問諸天言:『此身四 大,地、水、火、風,何由永滅?』彼忉利天報比丘言: 『我不知四大何由滅,上更有天,名焰摩, 微妙第一,有大智慧,彼天能知。』即往就問,又 言不知。

「如是展轉,至兜率天、化自在天、 他化自在天,皆言:『我不知四大何由而滅?上 更有天,微妙第一,有大智慧,名梵迦夷,彼 天能知四大何由永滅。』彼比丘即倐趣梵道, 詣梵天上問言:『此身四大,地、水、火、風,何由永 滅?』彼梵天報比丘言:『我不知四大何由永 滅,今有大梵天王,無能勝者,統千世界,富 貴尊豪,最得自在,能造化物,是眾生父母, 彼能知四大由何永滅。』長者子!彼比丘尋 問:『彼大梵王今為所在?』彼天報言:『不知大 梵今為所在,以我意觀,出現不久。』未久, 梵王忽然出現。長者!彼比丘詣梵王所問 言:『此身四大,地、水、火、風,何由永滅?』彼大梵王 告比丘言:『我梵天王無能勝者,統千世界, 富貴尊豪,最得自在,能造萬物,眾生父母。』 時,彼比丘告梵王曰:『我不問此事,自問 四大,地、水、火、風,何由永滅?』

「長者子!彼梵王猶 報比丘言:『我是大梵天王,無能勝者,乃至 造作萬物,眾生父母。』比丘又復告言:『我不 問此,我自問四大何由永滅?』長者子!彼梵 天王如是至三,不能報彼比丘四大何由 永滅。時,大梵王即執比丘右手,將詣屏處, 語言:『比丘!今諸梵王皆謂我為智慧第一, 無不知見,是故我不得報汝言:「不知不 見此四大何由永滅。」』又語比丘:『汝為大愚! 乃捨如來於諸天中推問此事。汝當於世 尊所問如此事,如佛所說,善受持之。』又 告比丘:『今佛在舍衛國給孤獨園,汝可往 問。』

「長者子!時,比丘於梵天上忽然不現。 譬如壯士屈申臂頃,至舍衛國祇樹給孤 獨園,來至我所,頭面禮足,一面坐,白我言: 『世尊!今此四大,地、水、火、風,何由而滅?』時,我告 言:『比丘!猶如商人臂鷹入海,於海中放 彼鷹飛空東西南北,若得陸地則便停止, 若無陸地更還歸船。比丘!汝亦如是,乃至 梵天問如是義,竟不成就,還來歸我。今當 使汝成就此義。』即說偈言:

「『何由無四大, 地水火風滅?
何由無麤細, 及長短好醜?
何由無名色, 永滅無有餘?
應答識無形, 無量自有光。
此滅四大滅, 麤細好醜滅,
於此名色滅, 識滅餘亦滅。』」

時,堅固長者子白佛言:「世尊!此比丘名何 等?云何持之?」

佛告長者子:「此比丘名阿室 已,當奉持之。」

爾時,堅固長者子聞佛所說, 歡喜奉行。

 

   
Bures-Sur-Yvette, 10.11.22
 Hoang Phong chuyển ngữ


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Học Phật